Phim Bom Tấn Là Gì?

Trong bài viết ngày hôm nay, chúng mình sẽ giới thiệu về định nghĩa “phim bom tấn”, một từ mà các bạn có lẽ đã nghe rất nhiều nhưng chưa thật sự hiểu hết được về nó.

Bom tấn là gì?

Để hiểu hơn về phim bom tấn, hãy cùng tìm hiểu sâu xa về ý nghĩa của từ này. Theo từ điển Cambridge, từ “Blockbuster” là một danh từ được dùng cho “a very successful product, film, etc… that makes a lot of money”.

Theo từ điển Cambridge, từ “Blockbuster” được định nghĩa là một sản phẩm thành công và kiếm được rất nhiều tiền, ví dụ như phim.

Cụm từ “blockbuster” (tiếng Việt: bom tấn) bắt đầu được nhắc đến từ khoảng những năm 1940. Thế chiến hai bắt đầu và nhanh chóng lan rộng ra khắp châu Âu. Quân đội hoàng gia Anh phát minh ra một loại bom có sức công phá cực mạnh, chỉ một quả là có thể tàn phá được cả một tòa nhà. Quân đội Đức nhắc đến nó với cái tên là “block busters”, không rõ là để nói về tên quả bom hay sức công phá khủng khiếp của nó. Sau khi được sử dụng nhiều trong một thời gian dài, từ này dần được hiểu chệch đi, theo nghĩa là những cảnh tượng bùng nổ lớn.

Lần sử dụng đầu tiên của từ “blockbuster” trong lĩnh vực điện ảnh là vào tháng 5 năm 1943, khi các quảng cáo trên hai tờ tạp chí lớn lúc bấy giờ là Variety và Motion Picture Herald mô tả bộ phim Bombardier của Pat O’Brien và Randolph Scott , là “Một bom tấn của thể loại phim hành động ly kì”. Một năm sau đó, một tờ tạp chí khác cũng bắt chước viết về With the Marines at Tarawa, bộ phim tài liệu về đề tài chiến tranh là “đánh mạnh vào trái tim như hai trái blockbuster”. Dù không được đưa vào từ điển với một nghĩa chính thức, nhưng trong suốt những năm 40s, thuật ngữ này thường xuyên được báo chí sử dụng cho các tác phẩm có tiềm năng thương mại hoặc thu hút khán giả mạnh mẽ, có sức ảnh hưởng như một quả bom. Những tác phẩm được vinh dự nhận từ này thời bấy giờ bao gồm một số bộ phim như là Bataan (1943), No Time for Love (1943) và bộ phim nhạc kịch lãng mạn Brazil (1944).

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, từ “blockbuster” không còn được sử dụng trong một thời gian, mãi cho đến khi Variety hồi sinh nó vào năm 1948, trong một bài báo viết về các bộ phim kinh phí lớn. Đến đầu những năm 50, từ ngữ này dần được tiêu chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi, không chỉ bởi báo chí và các nhà phê bình, mà còn bởi cả khán giả đại chúng. Ngay cả bộ phim kinh điển Gone With The Wind, Cuốn Theo Chiều Gió cũng từng được gán cho cái mác “blockbuster”, bởi sức ảnh hưởng mạnh mẽ về văn hóa của nó.

Kỷ nguyên của phim bom tấn

Dù được phát hiện và sử dụng từ rất sớm, nhưng mãi đến năm 1975, thời đại của phim bom tấn mới thật sự bắt đầu. Bộ phim mở ra thời kì này chính là Jaws (Hàm Cá Mập) của đạo diễn đại tài Steven Spielberg. Nó được coi là một hiện tượng văn hóa mới: một tác phẩm hấp dẫn, nhịp độ nhanh và được khán giả bàn tán nhiều khi bước chân ra khỏi rạp. Ra mắt vào thời điểm các bộ phim hoành tráng còn vô cùng khan hiếm, Jaws được xem là bộ phim có tính cách mạng về khả năng nắm bắt nhu cầu thị hiếu của khán giả. Với kinh phí chỉ vỏn vẹn 7 triệu, phim đã kiếm được 123 triệu đô khi vừa ra mắt. Cho đến thời điểm hiện tại, doanh thu phòng vé của Jaws là hơn 470 triệu đô, cứu sống hãng Universal, lúc bấy giờ đang chìm sâu trong thua lỗ.

Xem thêm  Phim Da 5 Bloods về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn Spike Lee sẽ chiếu trên Netflix

Từ thời điểm này “kỷ nguyên bom tấn” bắt đầu, và thể loại phim bom tấn cũng được thành lập. Chỉ hai năm sau, Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao ra đời, và sức ảnh hưởng của thể loại phim này càng thêm mạnh mẽ. Từ thời điểm này, phim bom tấn dần được hiểu theo nghĩa là một bộ phim giải trí có chi phí đầu tư lớn, diễn viên và đạo diễn tên tuổi, kĩ xảo hoành tráng, và quan trọng hơn cả phải có doanh thu khủng, sức ảnh hưởng mạnh mẽ, thu hút được lượng người xem lớn.

Thành công của Jaws và Star Wars đã khuyến khích các nhà làm phim Hollywood cố gắng tạo ra các “sự kiện điện ảnh” tương tự. Các công ty điện ảnh bắt đầu đầu tư làm những bộ phim hành động phiêu lưu có với kinh phí lớn, chiến dịch quảng bá rầm rộ với hy vọng những tác phẩm này sẽ nhanh chóng kiếm lại cho họ thật nhiều tiền. Mười lăm năm tiếp theo, chúng ta được chứng kiến ​​một làn sóng phim bom tấn, với nhiều tác phẩm chất lượng cao được được ra mắt bao gồm cả Alien (1979) và phần tiếp theo của nó, Aliens (1986), ba bộ phim đầu tiên của Indiana Jones (1981, 1984 và 1989), E.T. the Extra-Terrestrial (1982), Ghostbusters (1984), Beverly Hills Cop (1984), bộ ba Back to the Future (1985, 1989 và 1990), Top Gun (1986), Die Hard (1988), Terminator 1,2 và 3 (1984, 1991, 2005), Batman (1989) và phần tiếp theo của nó là Batman Returns (1992) và The Hunt for Red October (1990). Các bộ phim bom tấn thường được ra mắt vào mùa hè, thời điểm mà khán giả có nhiều thời gian hơn để ra rạp, và đánh nhau toác đầu chảy máu ngoài đó. Dù không ai trực tiếp nói ra, nhưng cả nhà sản xuất và khán giả đều ngầm hiểu rằng, tháng 5 sẽ là thời điểm mở màn của mùa phim bom tấn hè, và kéo dài đến đầu hoặc giữa tháng 9. Đây được coi đặc quyền dành cho các phim thương mại có kinh phí cao nhắm đến đối tượng đông đảo khán giả đại chúng, để giúp phim có thể thu về nhiều tiền nhất có thể.

Những năm 80, 90 của thế kỉ XX là kỉ nguyên hoàng kim của thể loại phim bom tấn về cả số lượng lẫn chất lượng. Hầu hết trong số đó đã trở thành kinh điển, đến nỗi mà 10, 20 năm sau người ta vẫn còn đào ra để làm các phần tiếp theo, như Alien hay sắp tới là Terminator.

Dù các bộ phim bom tấn hầu hết là phiêu lưu hành động, nhưng trên thực tế, dòng phim bom tấn vốn không giới hạn thể loại phim. Đó là lý do mà Titanic (1997), bộ phim điện ảnh thuộc thể loại lãng mạn thảm họa cũng được xếp vào phim bom tấn, khi nó ngốn mất của 20th Century Fox 200 triệu đô la Mỹ kinh phí sản xuất, nhưng bù lại lại thu về đến hơn hai tỉ đô Trump.

Tình trạng bùng nổ và sự suy giảm về chất lượng của phim bom tấn

Rõ ràng, blockbuster là miếng mồi ngon ăn. Thay vì làm một mớ phim nghệ thuật kinh phí thấp và rất lâu mới kiếm lại đủ tiền, các hãng phim, vốn là những nhà kinh doanh, thà đổ tiền làm phim bom tấn, nhiều ăn nhiều còn hơn. Đó cũng chính là lý do mà bước vào thế kỉ XXI, thể loại này bắt đầu bùng nổ nhanh chóng. Cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại, các tác phẩm bom tấn ngày càng được đổ nhiều tiền hơn, làm kĩ xảo hoành tráng hơn. Số lượng phim cũng càng ngày càng nhiều, khiến mùa hè dần trở nên chật chội. Nếu những năm 80, 90, chỉ có khoảng 5 – 10 phim bom tấn ra rạp vào mùa hè, thì đến nay, số lượng ấy đã tăng lên gấp 5, 6 lần và trải dài trong suốt cả năm. Số lượng tăng là lý do khiến chất lượng phim có dấu hiệu suy giảm. Kết quả là thập niên 2000 xuất hiện khá nhiều những chuỗi phim đình đám, kĩ xảo hoành tráng nhưng không đầu tư nhiều về mặt nội dung, bị giới phê bình chê trách thậm tệ, điển hình là Transformers. 5 phần phim kiếm được 4 tỷ đô trên toàn thế giới, nhưng chất lượng phim lại lao dốc theo thời gian. Không phần nào của Transformers có điểm cà chua tươi trên Rotten Tomatoes, cao nhất là phần đầu (58% điểm héo) và thấp nhất và thấp nhất là phần cuối (15% điểm héo). Đặc điểm của những bộ phim được lòng khán giả, mất lòng giới phê bình này thường là, kĩ xảo hoành tráng, đánh nhau đã mắt, nhưng nội dung vô nghĩa và lỏng lẻo, cùng với đó là các nhân vật thiếu chiều sâu. Sự dễ ăn của phim bom tấn cũng sinh ra tình trạng “làm dài, làm dai, làm dại”, khi người ta liên tục đẻ ra các phần tiền, hậu truyện của những bộ phim bom tấn trước đây đã gây tiếng vang để tiếp tục làm khán giả ra rạp và lấy tiền trong ví của họ.

Xem thêm  The End of the F***ing World: Hành trình không tưởng của cặp đôi tuổi teen với bản chất trái ngược.

Sự tập trung quá mức vào phim bom tấn cũng khiến giới phê bình tỏ ra không hài lòng. Một số nhà phê bình và nhà làm phim cố gắng tìm cách giải mã sự phổ biến của “tâm lý phim bom tấn” và than thở về cái chết của các bộ phim quy mô nhỏ, “nghệ thuật” trong kỉ nguyên Hollywood (bất chấp những lời khen ngợi về các tác phẩm nghệ thuật có chiều sâu khác). Quan điểm này được đưa ra, ví dụ, bởi nhà báo phim Peter Biskind, người đã viết rằng “tất cả các hãng phim đều muốn tạo ra được một Jaws khác”, và khi chi phí sản xuất tăng, họ ít sẵn sàng chấp nhận rủi ro, vì thế tạo ra những bộ phim bom tấn với “Mẫu số chung thấp nhất” của thị trường đại chúng. Trong cuốn sách The Long Tail, Chris Anderson nói về những bộ phim bom tấn, nói rằng một xã hội chỉ phim thuộc vào phim bom tấn, và tất cả đều phải nhường chỗ cho những bộ phim được coi là thành công, thực chất là một xã hội hạn chế.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phim bom tấn ngày càng dở. Thực tế mà nói, chất lượng của phim bom tấn đang có dấu hiệu tăng lại. Sau một thời gian tò mò với kĩ xảo và cháy nổ, khán giả bắt đầu chán ngán những bộ phim quá đơn giản và bắt đầu cần các tác phẩm “nhiều não” hơn. Các hãng phim cũng phải vắt óc nghĩ xem có gì mới mẻ, hay ho để làm với các tác phẩm bom tấn của mình, tránh việc lặp đi lặp lại những công thức chung nhàm chán. Thế kỉ XXI, với công nghệ đồ họa càng ngày càng tuyệt vời đã cho ra mắt nhiều tuyệt phẩm bom tấn như Avatar (James Cameron), bộ phim đánh dấu sự mở đầu của phim 3D, làm thay đổi nền điện ảnh mãi mãi, hoặc một số phim vừa có kĩ xảo đẹp mà nội dung cũng hay không kém, ví dụ như: Inception của Christopher Nolan hay Mad Max: Fury Road của George Miller. Marvel là một trong những studio đã thành công với việc làm mới này, khi họ không chỉ đơn thuần là sản xuất những bộ phim kinh phí cao, mà còn liên kết nó lại thành một vũ trụ điện ảnh, để khiến khán giả tò mò và sẵn sàng ra rạp. Ở thời điểm hiện tại, các bộ phim bom tấn cũng dần được đầu tư nhiều hơn về nội dung cũng như diễn xuất của dàn diễn viên chính, nhằm giúp trải nghiệm điện ảnh của khán giả càng ngày càng tốt hơn.

Xem thêm  ‘Mây Nhưng Không Mưa’ Tranh Giải Tại LHP Venice

Việt Nam có hay không có phim bom tấn?

Dù có nhiều bộ phim được rêu rao là “bom tấn Việt”, nhưng đáng buồn là nếu xét trên những tiêu chí được nói phía trên, Việt Nam chưa thật sự có một bom tấn nào. Bởi lẽ, phim đầu tư nhiều, đáng buồn lại thất bại thảm hại tại phòng vé. Ngược lại, thể loại phim hài, lãng mạn lại kiếm được nhiều tiền, khiến các nhà làm phim Việt cũng có phần “rén” khi định làm phim bom tấn.

Một số bộ phim “tạm gọi” là bom tấn Việt bao gồm Dòng máu anh hùng của Charlie Nguyễn (2006) đến Thiên mệnh anh hùng (2012) và Lôi Báo (2017) của Victor Vũ, Lửa phật của Dustin Nguyễn (2013), và gần đây nhất là Hai Phượng (2019). Hầu hết trong số này đều không kiếm lại được đủ tiền để hòa vốn. Dòng máu anh hùng – bộ phim hành động dã sử của anh em nhà Charlie Nguyễn ra mắt vào năm 2007, ngốn đến 1,5 triệu USD nhưng lại chỉ thu về có 10 tỷ VND, không được ⅓ kinh phí sản xuất. Chỉ có Hai Phượng tạm gọi là thành công, khi bỏ ra 1 triệu đô mà thu về được đến 200 tỷ VND, giúp các nhà làm phim Việt có thêm động lực để làm phim trong tương lai.

Thực chất, vấn đề của bom tấn Việt không chỉ có thị hiếu của khán giả. Theo một số trang báo, các tác phẩm bom tấn Việt thường bị nhận xét là vụng về về kỹ xảo, yếu ớt về kịch bản, sáo rỗng về thông điệp và sơ sài về chi tiết. Nhà phê bình Lê Hồng Lâm từng viết về bom tấn Việt trong một bài viết của mình như thế này:

“Kỹ xảo còn vụng về, kịch bản bắt chước, minh họa sơ sài hoặc quá xa lạ và nhân vật “người hùng” thiếu tính cách hoặc nửa vời, thông điệp giáo điều và giả tạo là những điểm yếu luôn lộ rõ trong hầu hết các phim bom tấn kiểu Việt.”

Có vẻ nhưng bom tấn của Mỹ đã đi qua một thời kì của nó, nhưng bom tấn Việt còn phải đi một hành trình rất dài để được khán giả công nhận. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm cả tốt và xấu rút ra Hai Phượng, chúng ta có thể hy vọng trong tương lai, điện ảnh Việt sẽ có những tác phẩm bom tấn thực thụ, với sức ảnh hưởng khủng như Jaws tại Mỹ năm nào.

Và đó là một số điều mà bọn mình muốn chia sẻ về phim bom tấn. Các bạn có suy nghĩ gì về thể loại phim bom tấn nói chung cũng như bom tấn Việt nói riêng?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *